
Hình ảnh được chia sẻ rộng rãi và gây tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn mạng xã hội (Ảnh: Otofun).
Biển báo cấm dừng, cấm đỗ xe theo quy định của pháp luật
Thông tư 54/2019/TT-BGTVT về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ có quy định tiêu chuẩn về biển báo cấm dừng xe như sau:
Biển số P.130 “Cấm dừng xe và đỗ xe”:

Biển số P.130 “Cấm dừng xe và cấm đỗ xe”
– Để báo nơi cấm dừng xe, đỗ xe phải dán biển số P.130 “Cấm dừng xe, cấm đỗ xe”.
– Biển có hiệu lực cấm các loại xe cơ giới được dừng, đỗ ở phần đường có đặt biển, trừ các xe được ưu tiên theo quy định. Đối với xe buýt chạy theo lộ trình quy định sẽ được hướng dẫn vị trí dừng đỗ phù hợp.

Biển số P.135 “Hết các lệnh cấm”.
– Hiệu lực cấm của biển bắt đầu từ nơi đặt biển cho đến chỗ giao nhau hoặc đến nơi xe được đỗ, dừng (hoặc đến vị trí đặt biển P.135 “Hết các lệnh cấm” nếu thỏa thuận cũng được áp dụng.Có nhiều biển báo cấm khác đã hết hiệu lực).
Nếu cần thể hiện đặc biệt, vị trí bắt đầu của lệnh cấm nên sử dụng biển số S.503f và vị trí kết thúc, sử dụng biển số S.503d “Hướng tác dụng của biển” đặt dưới bảng điều khiển chính.
– Nếu cấm dừng xe vào giờ nhất định thì dùng biển số S.508(a,b).
– Trong phạm vi hiệu lực của biển nếu có khoảng trống kè cho phép xe quay đầu thì phải trả lại biển đăng ký P.130.
Biển số P.131 (a,b,c) “Cấm đỗ xe”:

– Để báo nơi cấm đỗ xe trừ các xe ưu tiên theo quy định, dán biển P.131 (a,b,c) “Cấm đỗ xe”.
– Biển số P.131a có hiệu lực cấm các loại xe cơ giới đỗ ở phần đường mang biển.
– Biển số P.131b có hiệu lực cấm các phương tiện cơ giới đỗ ở phần đường có biển số P.131b vào ngày lẻ và biển số P.131c vào ngày chẵn.
– Hiệu lực cấm và thời hạn cấm đỗ xe áp dụng theo quy định tại điểm c, d điều B.30 đối với biển đăng ký P.130.
– Trong phạm vi hiệu lực của biển, nếu trong kè có khe hở cho phép xe quay đầu thì phải đặt biển nhắc lại.
Quy định pháp luật về dừng, đỗ xe
Nhiều tài xế cho rằng không có biển cấm thì dừng, đỗ thoải mái. Tuy nhiên, Điều 18 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định dù không có biển cấm nhưng người điều khiển phương tiện không được dừng, đỗ tại 11 địa điểm sau:
1. Bên trái đường một chiều;
2. Trên các đoạn cong và gần đỉnh dốc tầm nhìn bị che khuất;
3. Trên cầu, dưới cầu cạn;
4. Song song với xe khác đang dừng, đỗ;
5. Trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;
6. Tại nơi đường giao nhau và cách mép đường giao nhau dưới 5 m;
7. Điểm dừng xe buýt;
8. Trước cửa và trong phạm vi 5m về hai bên cửa trụ sở cơ quan, tổ chức;
9. Khi phần đường đủ rộng cho một làn xe;
10. Trong khu vực an toàn giao thông đường sắt;
11. Giấu biển báo giao thông.
Ngoài ra, Mục 19 Luật Giao thông đường bộ 2008 cũng có những quy định khá cụ thể về việc dừng, đỗ xe dưới lòng đường. Theo đó, người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường phố phải thực hiện như sau:
– Phải cho xe dừng, đỗ sát mép vỉa hè, phần đường bên phải theo chiều đi của xe; Bánh xe gần nhất không được cách lề đường, vỉa hè quá 0,25 mét và không được gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông. Trong trường hợp đường phố chật hẹp, bãi đỗ xe phải cách ô tô đỗ bên kia đường ít nhất 20 mét.
– Không được dừng, đỗ trên xe điện, trên miệng cống thoát nước, hầm đường dây điện thoại, điện cao thế, nơi dành cho xe chữa cháy vào lấy nước,… .
Hành vi vi phạm quy định về chỗ để xe có thể bị xử lý theo Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 200.000 đến 12 triệu đồng.
Như vậy, ngoài các trường hợp nêu trên và những nơi có biển cấm theo quy định của pháp luật, người điều khiển phương tiện được dừng xe, đỗ xe dưới lòng đường. Việc một số chủ nhà trọ, hộ kinh doanh, nhà hàng dựng biển báo cấm, cọc tiêu, rào chắn, cạm bẫy, v.v. là vi phạm pháp luật. ngăn không cho ô tô dừng, đỗ.
Chiếm dụng lòng đường có thể đối mặt với khung hình sự
Người có nhà ở mặt đường chỉ có quyền sở hữu, sử dụng, quản lý nhà đất trong giới hạn được ghi trong giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng. Còn vỉa hè, lòng đường trước nhà là tài sản công cộng, do Nhà nước quản lý, mọi người đều bình đẳng trong khai thác, sử dụng.
Theo quy định tại Khoản 10, Điều 11, Nghị định 100/2019/NĐ-CP, hành vi tự ý đặt chướng ngại vật, lắp đặt thiết bị trên đường bộ sẽ bị phạt tiền từ 6 – 8 triệu đồng đối với các tình tiết cụ thể. Nghiêm trọng hơn, hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cản trở giao thông đường bộ theo Điều 261 BLHS nếu tình tiết đặt hoặc để chướng ngại vật khác gây cản trở giao thông đường bộ; Sử dụng trái phép lề đường, vỉa hè, lòng đường làm chết người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng, thì có thể bị phạt tiền 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 tháng đến 03 năm.